Life 70 _ Coronary artery disease
0 0
Read Time:15 Minute, 38 Second

BỆNH MẠCH VÀNH

Bệnh mạch vành hay còn gọi là bệnh động mạch vành, là tình trạng xuất hiện khi một hoặc nhiều nhánh của các mạch máu chính cung cấp cho tim bị tổn thương hoặc bị bệnh. Khi đó, các mạch máu này bị hẹp lại hay bị cản trở bởi các mảng bám tích tụ bên trong.
Ta biết rằng, các động mạch trong cơ thể chúng ta vốn dĩ rất mềm mại và đàn hồi. Thế mà, các mảng bám tức là các mảng cholesterol trong động mạch vành và tình trạng viêm nhiễm thường là nguyên nhân gây ra bệnh mạch vành, khiến cho các động mạch trở nên hẹp và cứng hơn và tình trạng hẹp và cứng của động mạch như vậy cũng được gọi là chứng xơ vữa động mạch.
Khi bệnh mạch vành tiến triển, sự lưu thông máu qua động mạch trở nên khó khăn hơn. Hậu quả là cơ tim không thể nhận đủ lượng máu và oxy cần thiết, dẫn đến tình trạng đau thắt ngực. Và điều tệ hại nhất có thể xảy ra là nhồi máu cơ tim. Hầu hết các cơn nhồi máu cơ tim xảy ra khi một cục máu đông đột ngột di chuyển đến đoạn hẹp của mạch máu. Sự tắc nghẽn hoàn toàn ở đó có thể gây ra một cơn đau tim, thậm chí gây tử vong ngay hoặc chí ít cũng là gây tổn thương tim vĩnh viễn và đi cùng với những hậu quả như suy tim, loạn nhịp tim cùng với nhiều biến chứng nguy hiểm khác.
Trên thực tế, bệnh mạch vành có thể phát triển âm thầm qua nhiều chục năm, do đó người bệnh có thể không biết mình đang bị bệnh cho đến khi xuất hiện những cơn đau ngực hoặc đau tim rõ rệt. Do đó, việc nhận biết được mình đang mắc bệnh mạch vành để sớm thực hiện các biện pháp ngăn ngừa và chữa trị bệnh kịp thời là rất quan trọng, trước khi để tình trạng bệnh quá nặng, và thậm chí khi biết có bệnh thì đã quá muộn.

CÁC DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH MẠCH VÀNH :

Nếu động mạch vành của bạn bị thu hẹp, chúng không thể cung cấp đủ máu giàu oxy cho tim của bạn – đặc biệt là khi tim đập mạnh, chẳng hạn như khi tập thể dục. Lúc đầu, lưu lượng máu giảm có thể không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Tuy nhiên, khi mảng bám tiếp tục tích tụ trong động mạch vành, bạn có thể phát triển các dấu hiệu và triệu chứng bệnh động mạch phổ biến nhất là đau thắt ngực hay đau vùng tim, với các dấu hiệu cụ thể có thể như sau :

  • Đau ngực, cũng được gọi là đau thắt ngực. Bạn có thể cảm thấy áp lực hoặc tức ngực, như thể ai đó đang đứng trên ngực bạn. Cơn đau này thường xảy ra ở giữa hoặc bên trái của ngực và thường được kích hoạt bởi căng thẳng về thể chất hoặc cảm xúc. Cơn đau thường biến mất trong vòng vài phút sau khi ngừng hoạt động căng thẳng. Ở một số người, đặc biệt là phụ nữ, cơn đau có thể ngắn hoặc buốt nhói, và có thể cũng cảm thấy đau ở cổ, cánh tay hoặc lưng.
  • Khó thở. Nếu tim của bạn không thể bơm đủ máu để đáp ứng nhu cầu của cơ thể, bạn có thể bị khó thở hoặc cực kỳ mệt mỏi khi hoạt động.
  • Đau tim. Động mạch vành bị tắc nghẽn hoàn toàn sẽ gây ra nhồi máu cơ tim. Các dấu hiệu và triệu chứng cổ điển của cơn đau tim bao gồm áp lực đè nén trong ngực và đau ở vai hoặc cánh tay, đôi khi khó thở và đổ mồ hôi.
  • Triệu chứng của bệnh mạch vành ở phụ nữ thường nhẹ hơn so với nam giới, tức là các chị em có phần nào đó ít có các dấu hiệu và triệu chứng điển hình của cơn đau tim hơn nam giới như đau cổ hoặc hàm. Tuy nhiên phụ nữ thường có thể có các triệu chứng khác như khó thở, mệt mỏi, đổ nhiều mồ hôi và buồn nôn hơn so với nam giới.
  • Và, điều rất nguy hiểm là có thể có những trường hợp có cơn đau tim xảy ra mà không có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng rõ ràng nào để người bệnh có thể được chữa trị kịp thời.

Cũng phải nói thêm là, người mắc bệnh mạch vành cũng có thể gặp các triệu chứng khác còn chưa được đề cập ở đây. Do đó, nếu bạn có bất kì băn khoăn nào về các triệu chứng và dấu hiệu của căn bệnh này, bạn hãy tham khảo ý kiến từ các bác sĩ chuyên môn để có thể chủ động phòng ngừa và chữa trị kịp thời.
Đặc biệt là, khi bạn nhận thấy hoặc tự xác định rằng mình đang bị cơn đau tim, bạn hãy gọi ngay các số điện thoại cấp cứu khẩn cấp tại địa phương của bạn. Hoặc, bạn có thể nhờ người khác chở đến bệnh viện gần nhất. Hãy chú ý, hành động tự lái xe đến bệnh viện chỉ là giải pháp cuối cùng.
Nếu bạn có các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành – chẳng hạn như huyết áp cao, cholesterol cao, sử dụng thuốc lá, tiểu đường, béo phì và tiền sử gia đình mắc bệnh tim – hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn. Bác sĩ có thể muốn kiểm tra bệnh mạch vành cho bạn, đặc biệt nếu bạn có các dấu hiệu hoặc triệu chứng của động mạch bị thu hẹp.

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH MẠCH VÀNH

Các yếu tố nguy cơ cổ điển, tức là các yếu tố nguy cơ đã được xác định từ lâu

Trên thực tế, có rất nhiều yếu tố nguy cơ được xác định là nguyên nhân làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch, gây ra bệnh mạch vành. Cụ thể như sau:

  • Tuổi tác. Tuổi càng cao thì càng có nhiều nguy cơ mắc bệnh mạch vành. Trên thực tế thì bệnh mạch vành thường xuất hiện ở nam trên 50 tuổi và nữ trên 55 tuổi.
  • Giới tính. Thông thường thì nam là đối tượng có nguy cơ cao hơn nữ trong các bệnh lý về tim mạch. Tuy nhiên, nữ giới sau mãn kinh cũng có nguy cơ bệnh mạch vành tăng cao rõ rệt so với các phụ nữ ở các độ tuổi khác.
  • Tiền sử gia đình. Tiền sử gia đình mắc bệnh tim có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh mạch vành cao hơn, đặc biệt nếu người thân mắc bệnh tim khi còn nhỏ. Nguy cơ của bạn là cao nhất nếu cha hoặc anh trai của bạn được chẩn đoán mắc bệnh tim trước 55 tuổi hoặc nếu mẹ hoặc chị gái của bạn phát triển bệnh này trước 65 tuổi.
  • Các bệnh liên quan đến bệnh mạch vành. Bệnh mạch vành dễ dàng xuất hiện ở các bệnh nhân mắc đồng thời các bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường hoặc kháng insulin, rối loạn mỡ máu – Cholesterol cao, béo phì,… Ở đây tôi cũng xin nói thêm là, một khi thành trong của động mạch bị tổn thương, các chất béo tức các mảng bám làm nên từ cholesterol và các chất thải tế bào khác có xu hướng tích tụ tại vị trí bị thương. Quá trình này được gọi là xơ vữa động mạch. Nếu bề mặt mảng bám bị vỡ hoặc vỡ, các tế bào máu được gọi là tiểu cầu sẽ kết tụ lại với nhau tại vị trí bị tổn thương đó để cố gắng sửa chữa động mạch. Và, khối này có thể làm tắc nghẽn động mạch, dẫn đến nhồi máu cơ tim.
  • Lối sống ít vận động. Những người thường xuyên ngồi một chỗ, không luyện tập thể dục đều đặn, ít vận động sẽ có nguy cơ cao hơn đối với các bệnh tim mạch cũng như các bệnh khác có liên quan.
  • Hút thuốc lá. Thói quen hút thuốc không những làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như ung thư phổi, ung thư vòm họng mà còn có thể gây nên các bệnh tim mạch.
  • Nghiện rượu bia. Uống quá nhiều rượu bia cũng là nguyên nhân quan trọng gây thiếu máu cục bộ cơ tim và làm xuất hiện những cơn đau thắt ngực.
  • Chế độ ăn uống không lành mạnh. Ăn quá nhiều thực phẩm có nhiều chất béo bão hòa, chất béo chuyển hóa, muối và đường có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành.
  • Tình trạng căng thẳng tinh thần. Căng thẳng không được giải tỏa trong cuộc sống có thể làm hỏng động mạch cũng như làm trầm trọng thêm các yếu tố nguy cơ khác của bệnh mạch vành.

Các yếu tố nguy cơ khác

Bệnh mạch vành cũng có thể phát triển mà không có bất kì yếu tố nguy cơ nào kể trên mà người ta gọi chúng là các yếu tố nguy cơ cổ điển. Các nhà nghiên cứu hiện nay cũng đang nghiên cứu các yếu tố nguy cơ khác cũng có thể gây nên bệnh mạch vành, chẳng hạn như:

  • Chứng ngưng thở lúc ngủ. Rối loạn này khiến người bệnh liên tục ngừng thở một cách gián đoạn khi đang ngủ. Nồng độ oxy trong máu giảm đột ngột xảy ra khi ngưng thở khi ngủ làm tăng huyết áp và căng thẳng hệ thống tim mạch, có thể dẫn đến bệnh mạch vành.
  • Protein phản ứng C độ nhạy cao (hs-CRP). Đây là một loại protein đặc biệt, thường xuất hiện với số lượng cao hơn bình thường khi người bệnh bị viêm ở đâu đó trong cơ thể. Khi protein này được hình thành ở mức cao sẽ có thể là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh tim.
  • Chất béo trung tính cao. Đây là tên gọi của Triglyceride, một loại chất béo có ở trong máu chúng ta. Tuy nhiên nếu mức độ Triglyceride tăng cao sẽ có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành, đặc biệt là đối với phụ nữ.
  • Homocysteine. Homocysteine là một axit amin cần thiết cho cơ thể sử dụng tạo ra protein để xây dựng và duy trì mô. Thế nhưng lượng homocysteine cao thì có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành.
  • Tiền sản giật. Tình trạng này có thể phát triển ở phụ nữ khi mang thai, gây ra huyết áp cao và lượng protein trong nước tiểu cao hơn. Nó có thể dẫn đến nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn sau này.
  • Nghiện rượu. Uống rượu nặng thường xuyên có thể dẫn đến tổn thương cơ tim. Nó cũng có thể làm trầm trọng thêm các yếu tố nguy cơ khác của bệnh mạch vành.
  • Và, các bệnh tự miễn. Những người mắc các bệnh như viêm khớp dạng thấp và lupus (và các tình trạng viêm khác) có nguy cơ cao bị xơ vữa động mạch.

CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH MẠCH VÀNH

Bệnh mạch vành có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như:

  • Đau ngực hay còn gọi là đau thắt ngực. Khi động mạch vành bị thu hẹp, tim sẽ có thể không nhận đủ máu đặc biệt khi có nhu cầu lớn nhất như khi trong các hoạt động thể chất. Điều này có thể gây ra đau ngực hoặc khó thở.
  • Đau tim. Nếu mảng bám cholesterol bị vỡ và hình thành cục máu đông, sự tắc nghẽn hoàn toàn động mạch tim có thể gây ra cơn đau tim. Việc thiếu lưu lượng máu đến tim có thể làm hỏng cơ tim, mà mức độ thiệt hại một phần phụ thuộc vào mức độ nhanh chóng của việc điều trị có chính xác và kịp thời hay không.
  • Suy tim. Nếu một số khu vực trong tim bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng kinh niên do lưu lượng máu giảm, hoặc nếu tim tổn thương do một cơn đau tim, tim có thể trở nên yếu ớt và không đủ sức để bơm đủ máu để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Tình trạng này được gọi là suy tim.
  • Và, nhịp tim bất thường (tức loạn nhịp tim). Sự cung cấp máu không đủ cho tim hoặc tổn thương mô tim có thể cản trở các xung điện của tim, gây ra nhịp tim bất thường.

ĐIỀU TRỊ BỆNH MẠCH VÀNH

Điều trị bệnh mạch vành thường bao gồm thay đổi lối sống và nếu cần, bác sĩ sẽ hướng dẫn người bệnh dùng thuốc và có thể áp dụng một số thủ thuật y tế phù hợp.

Thay đổi lối sống

Nếu bạn đang có nguy cơ hoặc đã thực sự mắc bệnh mạch vành, việc thực hiện những thay đổi lối sống lành mạnh có thể giúp bạn tự mình thúc đẩy các quá trình hồi phục và làm cho động mạch trở nên khỏe mạnh hơn, cụ thể như sau:

  • Từ bỏ hút thuốc và tránh khói thuốc
  • Chế độ ăn uống hợp lý: Tránh các loại thức ăn nhanh, chế biến nhiều dầu mỡ và thực hiện chế độ ăn ít muối và ít đường. Ăn các loại “thực phẩm vàng” cho trái tim, bao gồm các loại ngũ cốc thô, rau quả xanh, trái cây, các loại đậu, các loại hạt,…
  • Hạn chế hoặc nói không với rượu bia nếu thấy cần thiết.
  • Luyện tập thể dục đều đặn. Tuy nhiên, đối với các bệnh tim mạch, bệnh nhân nên trao đổi với bác sĩ để lựa chọn hình thức và cường độ tập thể lực phù hợp với tình trạng sức khỏe của bản thân.
  • Kiểm soát tốt các bệnh lý kèm theo: Bệnh nhân cần thường xuyên kiểm tra để phát hiện và điều trị kịp thời những bệnh lý liên quan đến bệnh mạch vành, như đái tháo đường, béo phì, thừa cân, rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp,…
  • Xây dựng lối sống tích cực, thanh thản, vui vẻ, tránh tính trạng căng thẳng quá mức, thực hiện chế độ sinh hoạt hợp lý, làm việc điều độ, quản lý thời gian hiệu quả.

Điều trị bằng thuốc

Nhiều loại thuốc có thể được sử dụng để điều trị bệnh mạch vành, bao gồm:

  • Thuốc điều chỉnh cholesterol. Bác sĩ của bạn có thể chọn từ nhiều loại thuốc, bao gồm statin, niacin, fibrat và chất cô lập axit mật. Những loại thuốc này làm giảm (hoặc sửa đổi) chất chính lắng đọng trên động mạch vành. Kết quả là làm giảm mức cholesterol – đặc biệt là làm giảm loại cholesterol “xấu”.
  • Aspirin. Bác sĩ có thể khuyên bạn nên dùng aspirin hàng ngày hoặc thuốc làm loãng máu khác. Điều này có thể làm giảm xu hướng đông máu và có thể giúp ngăn ngừa tắc nghẽn động mạch vành của bạn.
  • Nếu bạn bị đau tim, aspirin có thể giúp ngăn ngừa các cơn đau trong tương lai. Nhưng cần phải lưu ý là aspirin có thể nguy hiểm nếu bạn bị rối loạn chảy máu hoặc bạn đang dùng một loại thuốc làm loãng máu khác, vì vậy bạn cần phải hỏi bác sĩ trước khi dùng.
  • Thuốc chẹn beta. Những loại thuốc này làm chậm nhịp tim và giảm huyết áp, làm giảm nhu cầu oxy của tim. Nếu bạn đã bị đau tim, thuốc chẹn beta làm giảm nguy cơ bị các cuộc tấn công trong tương lai.
  • Thuốc chặn canxi. Những loại thuốc này có thể được sử dụng kết hợp hoặc thay thế thuốc chẹn beta trong trường hợp bạn không thể dùng chúng. Những loại thuốc chặn canxi này có thể giúp cải thiện các triệu chứng đau ngực.
  • Ranolazine. Thuốc này có thể giúp những người bị đau ngực (tức đau thắt ngực). Nó có thể được kê đơn cùng hoặc thay thế thuốc chẹn beta nếu bạn không thể dùng nó.
  • Nitroglycerin. Nitroglycerin dạng viên nén, thuốc xịt và miếng dán có thể kiểm soát cơn đau ngực bằng cách tạm thời làm giãn động mạch vành và giảm nhu cầu máu của tim.
  • Thuốc ức chế men chuyển (ACE) và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB). Những loại thuốc tương tự này làm giảm huyết áp và có thể giúp ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh mạch vành.

Và, trong trường hợp cần được điều trị tích cực hơn. Các bác sĩ sẽ quyết định cho bạn các lựa chọn can thiệp bằng y học hiện đại. Dưới đây là một số lựa chọn hiện đang được áp dụng rộng rãi cho các bệnh nhân bệnh mạch vành :

Các phương pháp y học hiện đại

Dưới đây là một số lựa chọn hiện đang được áp dụng rộng rãi cho các bệnh nhận bệnh mạch vành :

  • Nong mạch và đặt stent (tái thông mạch vành qua da). Các bác sĩ sẽ chèn một ống dài và mỏng (ống thông) vào phần bị hẹp của động mạch, giúp cho động mạch mở rộng lưu thông máu dễ dàng hơn. Hầu hết các stent giải phóng thuốc từ từ để giúp giữ cho các động mạch mở.
  • Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Bác sĩ phẫu thuật sẽ sử dụng một động mạch từ một bộ phận khác của cơ thể bạn để tạo ra một mảnh ghép để bắc qua các động mạch vành bị tắc nghẽn. Việc làm này cho phép máu lưu thông vòng qua đoạn động mạch vành bị tắc hoặc hẹp. Vì điều này đòi hỏi phẫu thuật tim mở, nên nó thường chỉ được thực hiện cho những người có nhiều động mạch vành bị hẹp.

Các phương pháp khác

Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng đang nghiên cứu thêm nhiều cách để điều trị bệnh mạch vành, chẳng hạn như :

  • Sử dụng chất sinh mạch: Phương pháp này áp dụng các tính chất liên quan đến tế bào gốc và các vật liệu di truyền khác. Chất sinh mạch được truyền qua đường tĩnh mạch hoặc đưa trực tiếp vào mô tim đang bị tổn thương
  • Phương pháp phản xung động ngoại biên tăng cường (La contrepulsion externe exaltée _ Enhanced External Counterpulsation) . Phương pháp này được áp dụng cho các trường hợp đã bị bệnh mạch vành trong thời gian dài và tình trạng đau thắt ngực trở nên mãn tính, mà các thuốc nhóm nitrat không đem lại hiệu quả hoặc bệnh nhân không đủ điều kiện để tiến hành các thủ thuật. Đây là phương pháp sử dụng vòng ở chân thổi phồng và làm xẹp, nhằm làm tăng sự cung cấp máu cho động mạch vành.

About Post Author

Maître VIKUDO

Docteur en Physiopathologie
Happy
Happy
0 %
Sad
Sad
0 %
Excited
Excited
0 %
Sleepy
Sleepy
0 %
Angry
Angry
0 %
Surprise
Surprise
0 %
Acupoint KI2 _ Huyệt Nhiên cốc - Kinh Túc thiếu âm thận _ KI-2 Previous post Huyệt Nhiên cốc – Kinh Túc thiếu âm thận _ Acupoint KI2
Acupoint KI4 _ Huyệt Đại chung _ Túc thiếu âm thận _ KI-4 Next post Huyệt Đại chung _ Kinh Túc thiếu âm thận _ Acupoint KI4

Average Rating

5 Star
0%
4 Star
0%
3 Star
0%
2 Star
0%
1 Star
0%

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.